Hướng dẫn thực hành về năng lượng miễn phí - Patrick J.Kelly

Chủ đề: chế tạo thiết bị chạy nhiên liệu từ nước HHO Tài liệu cập nhật ngày 24 tháng 9 năm 2007. Từ tác giả Patrick J. Kelly – Mr. P...

Chủ đề: chế tạo thiết bị chạy nhiên liệu từ nước HHO

Tài liệu cập nhật ngày 24 tháng 9 năm 2007.
Từ tác giả Patrick J. Kelly – Mr. Phạm Văn Trường – truongcuoi2042@gmail.com – Hà nội – Việt Nam
Có 3 loại máy điện phân dùng cho oto:
1. Cell 12V đơn
2. Series Cell 12V (11 cell mắc nối tiếp với nhau)
3. Series Cell cao thế (101 tấm cực đặt cách nhau


1. Đối với acquy 12V dùng 1 cell đơn:
- Dùng KOH
- Khoảng cách tối ưu giữa các tấm cực là 3-5mm để cho thoát các bong bóng sinh ra trong quá trình điện phân
- Các tấm cực làm từ mác thép không gỉ 316L – để tối ưu tốc độ sinh khí – điều này rất quan trọng
- Tấm cực bề mặt càng lớn thì càng sinh nhiều khí, dùng giấy ráp thô đánh bề mặt các tấm cực cho nhám theo 2 chiều, tạo các đường rãnh nhỏ chéo nhau trên tấm cực, các bong bóng Hydro và Oxy sinh ra khi điện phân sẽ không bám vào và giúp cho việc sinh khí nhanh hơn.
- Theo tính toán với nhiều lần thí nghiệm, tối ưu nhất là cứ 1Am đi qua bình điện phân thì bề mặt của tấm cực là 13-25 cm2 (cemtimet vuông). Vậy trung bình 2Am sẽ là 40cm2. Tùy mỗi người, tôi chọn tấm cực là 15x15cm =225 cm2 -> cường độ trung bình sẽ là 10Am.
- Điểm quan trọng là cường độ dòng đi qua, dòng càng lớn thì tốc độ sinh khí càng cao. Vậy làm thế nào để có thể điều khiển tối ưu chính xác và tiết kiệm sao cho với lượng năng lượng điện từ acquy 12V có thể tạo ra lượng khí nhiều nhất. Cường độ Dòng điện có thể được điều khiển bởi lượng KOH và hiệu điện thế đi qua.. Qua nhiều thí nghiệm cho thấy, đối với 1 cell, điện thế đi qua đạt điểm tối ưu cho tốc độ sinh khí là 1,24V. Qua mức này, tăng thêm Volt cũng không làm tăng them khí.
- Nếu Volt>1,24, thì phần Volt cao hơn 1,24 sẽ làm nóng chất điện phân.
- Cho là 1 cell dùng 10Am -> năng lượng dùng tạo ra khí là 10x1,24 = 12,4 watts.
- Khi xe chạy, bộ phát sẽ cấp cho acquy, acquy trung bình sẽ có 13,8Volts. Nếu xe chỉ lắp 1cell, vậy chỉ dùng hết 1,24volt. Còn  13,8-1,24 = 12,56 volts thừa để làm nóng chất điện phân.
- Năng lượng làm nóng là: 12,56 volt  x  10Am = 125,6 Watts.
Hình sau thể hiện điều đó:

- Khó tin nhưng hiệu điện thế giảm dọc theo các tấm cực. Nên ta áp dụng  khoảng 2 Volts cho mỗi mặt của tấm cực. Vậy để giải quyết vấn đề thừa năng lượng ta nên làm 7 cells liên tiếp để tiêu thụ.

- Nếu dùng 2 cells, mỗi cell sẽ dùng khoảng 7 volts và lượng khí ra gấp đôi. Nếu dùng 6 cells, mỗi cell sẽ dùng 2 volts và năng lượng thừa giảm xuống còn 10,6Watts/1cell; trong khi lượng khí ra gấp 6 lần.
- Càng thêm nhiều KOH vào càng sinh khí nhanh, nhưng đến khi cho quá 28% (tính theo khối lượng) thì tốc độ sinh khí giảm. Tôi thường cho 10% là ok.
- Vấn đề tạo bong bóng Hydro và Oxy trong quá trình sinh khí, bong bóng dính vào bề mặt tấm cực dù đã được xử lý nhám, vẫn chưa tốt. Giải pháp là dùng 1 ống khí của máy trong oto để dẫn khí xuyên qua các cell. Thiết kế thể hiện ở hình sau:

- Khoảng cách giữa các tấm cực là 5-9mm. Các tấm cực đặt sao cho lỗ của chúng không thẳng hàng, để khí đi lên theo hình zig-zag
- Khí sẽ đi vào và qua ống khí vào bình điện phân, qua lỗ khí và được cái làm lêch khí đưa khí qua các lỗ của tấm cực. Khí được thổi lên tạo thành các dòng khí xoắn  trong chất điện phân, giúp cho các bong bóng Hydro và Oxy thoát khỏi bề mặt tấm cực nhanh hơn.
- Khoảng cách mỗi đĩa cực là 5mm, bình điện phân tầm 23cm.
- Đường kính đĩa là 7,5cm; đường kính hình tròn trung tâm là 1,8cm; có 18 lỗ, mỗi lỗ đường kính 3mm. Diện tích hữu ích điện cực sẽ khoảng 41,3 cm2 trên mỗi mặt đĩa. Vì ta cần mỗi 25cm2 là 1Am, nên 41,3 cm2 cần 41,3/25=1,6 Am.
- Ví dụ mỗi Cell có 7 tấm cực: mỗi bề mặt tấm cực trung bình là 40 cm2, cứ mỗi 2 tấm cực tạo thành 1 khoảng giữa, ta sẽ có 6 khoảng giữa như vậy cho 7 tấm cực. Vậy sẽ có 41,3 x 6 = 250 cm2 tương đương 10Am.
- Thể hiện tại hình dưới


2. Đối với acquy 12V dùng series cell:
- Ta có thể lắp 6 cell như sau:

- Mặt bên: mắc ống dẫn khí
- 1 acquy 12V khi xe chay có thông số như sau: 13,8 Volt  x 10Am = 138 Watts
- 1 cell tiêu thụ hết: 1,24 Volt  x 10Am  = 12,4 Watts, đạt 9% công suất ắc quy.
- 7 cell tiêu thụ hết: 1,24 Volt  x 10Am  x 7= 74,4 Watts, đạt 63% công suất ắc quy. Còn 138 – 74,4 = hơn 63 watts sẽ làm nóng chất điện phân
- Nếu khoang máy oto đủ rộng, nên lắp 11 cell. Lượng khí sẽ rất lớn, có thể chạy riêng cho ôto không cần xăng.

3. Series Cell cao thế (101 tấm cực đặt cách nhau)

Cái này khá khó làm, sẽ sinh ra rất nhiều khí, có thể cho xe chạy không cần dùng xăng. Cần cẩn thận. Xe chay hoàn toàn bằng khí Hydroxy (Hydro và oxy) có thể làm bẩn 1 số bộ phận của máy do có hạt bụi vào, như nhẫn piston..

Các loại xe hiện đại ngày nay có bộ điều khiển khí xăng, cảm biến oxy, xác định thời gian đốt, đốt bao lâu…. Đều không thích hợp cho lắp thiết bị này. Muốn lắp phải bỏ đi hệ thống điều khiển khởi động hiện tại, thay bằng loại đơn giản hơn. Lý do nữa là khí hydroxy cháy nhanh gấp 1000 lần hơi xăng, do đó, việc đánh lửa trong xylanh xảy ra muộn hơn trong chu trình. Các loại xe phù hợp là loại cũ, có mồi đánh lửa từ tụ điện, hay loại xe có công tắc ngắt trên mạch đánh lửa; bởi nó cho phép điều chỉnh thời gian thiết lập. Xe phải có bộ chế hòa khí và khoảng không rộng để đặt máy.
Bob – ông ta tạo ra máy bao gồm 100 cells (dùng 101 plates). Nhưng cũng có thể dùng loại 60 cells, bởi vì Volt giảm dần theo số lượng điện cực, ta dùng trung bình 2 Volt cho 1 cell cho điện DC. Tuy nhiên Bob đã tìm ra nên dùng 1,5 Volt, nên ông ta dùng cho máy 100cell  là 150 volts. Ông ta dùng bộ chuyển đổi loại 110V, với đầu vào là 12V DC và đầu ra là 110V AC. Đầu ra này được chuyển thành DC thông qua 4 diod (gọi là cầu điod).

Ta không dùng các cell như trên để kết nối do không có khoảng không.
Cách xếp các tấm cực như hình sau, nhưng vẫn có khoảng phí.
Màu xanh nối vào điện âm, màu đỏ nối điên dương.


Các tấm cực có thể xếp tiết kiệm hơn, các tấm xanh ở trong bỏ đi, tấm đỏ dầy lên. Thể hiện hình sau:



Như vậy ta sẽ có bình điện phân ở dạng sau:


Gồm 101 tấm cực, Các tấm cực đặt cách nhau 3mm,  dầy 1,5875 mm , 3 cạnh của mỗi tấm cực gắn liền luôn vào 3 canh của bình điện phân. Độ rộng của bình điện phân chừng 50cm.
Mức dung dịch điện phân chỉ cao gần đến đầu tấm cực
Bob dùng 1 vi mạch tạo dao động xung 3 lần (tự tạo) để điều khiển mức dung dịch điện phân khi còn khoảng 7-8mm, tránh trường hợp đặc quá tạo quá nhiều khí  thì dừng lại, không cho dung dịch điện phân bắn tung tóe.

Hình dùng bình điện phân 60 cells:


Hệ thống xung của Bob có những thành phần như sau:
1. Hệ thống nối điện với điện ôtto (an toàn bên trong)
2. Bộ chuyển để tăng Volt bình điện phân lên 160V
3. Bảng điện thiết kế đặc biệt của Bob để tạo ra dạng sóng chia cắt nước phức tạp
4. Bộ biến thế để nối bảng điện với bình điện phân
5. Bình điện phân 101 điện cực nối nối tiếp
6. Hệ thống bảo vệ kép để nối an toàn từ bình điện phân đến buồng đốt của máy.

1. Sản xuất bình điện phân có thể làm từ:
NHỰA SIÊU CAO PHÂN TỬ PE (UHMW-PE)
Nhựa TIVAR® là loại vật liệu polyme kỹ thuật, phát triển từ dòng UHMW-PE (Ultra-High Molecular Weight Polyethylene), được sử dụng để giải quyết các vấn đề liên quan đến ma sát, mài mòn, dòng chảy vật liệu và ăn mòn. Qua 35 năm phát triển, các kỹ sư người Đức đã nghiên cứu và sản suất nhiều loại vật liệu nhựa họ TIVAR® với những đặc tính nổi trội về chống ma sát, mài mòn, trơn trượt như là Ceram P, SuperPlus, Special DS, DrySilde và Oil Filled, vật liệu được tăng cường khả năng chịu nhiệt và oxy hóa hay tính chống khuẩn [TIVAR® H.O.T. and TIVAR® 1000 anti-microbial], TIVAR® FlamEx là loại vật liệu chống cháy và TIVAR® 88 sử dụng để lót cho các thiết bị nhằm chống bào mòn.

Ống HDPE có những đặc tính quý báu và ưu việt hơn hẳn các ống nhựa khác.
- Ống HDPE rất bền, chịu được rất tốt với những chất lỏng và dung dịch thường gặp trên đường dẫn và đất thoát nước. Nó không bị rỉ, không bị tác dụng bởi các dung dịch muối, axít và kiềm, kể cả nước mưa axít cũng không ảnh hưởng tới loại ống này.
- Sự chịu đựng đối với ánh sáng mặt trời và nhiệt độ của ống HDPE rất tốt, nó không bị lão hóa về cơ lý hoá khi ống HDPE bị để lâu ngày dưới tia cực tím của mặt trời.
- Ở nhiệt độ –40oC ống HDPE vẫn giữ được sự chịu áp và độ va đập tốt so với các ống nhựa khác. Ống HDPE  chịu lửa tốt. Khi bị tác dụng dưới ngọn lửa, ống HDPE khó bắt lửa, nó chỉ mềm đi và biến dạng. Nhiệt độ bắt lửa của nhựa HDPE là 327oC
- Ống HDPE có đặc tính chịu uốn lệch rất tốt và có sức chịu biến dạng dưới loại tải cao


Cần phải cắt các rãnh của các bên bình điện phân, mỗi rãnh có độ rộng 1.6637mm. Hình các rãnh như sau:


Hay có thể làm tấm dưới giống hình sau nếu khoét rãnh khó:


Do ảnh hưởng của điều kiện đường xá, Độ dày của mỗi tấm cực cần làm dày từ 20-25mm, phía bên khi gắn các tấm cần được hỗ trợ lực bởi một tấm sắt vuông được gắn các ví như hình vẽ


Như vậy bình điện phân sẽ chắc chắn hơn.

2. Tấm cực:
Hình vuông, dài x rộng: 152 mm
làm từ thép không gỉ loại mác thép 316L, dầy 1.5875mm; do có hỗn hợp nikel và molypden với tỉ lệ phù hợp cho tấm cực trong kỹ thuật xung điện.
công thức hóa học: Fe, <0.03% C, 16-18.5% Cr, 10-14% Ni, 2-3% Mo (molypđen), <2% Mn, <1% Si, <0.045% P, <0.03% S

NIKEN (Ni)
Niken là nguyên tố hợp kim chính của mác thép không gỉ sêri 300. Sự có mặt của Niken hình thành cấu trúc “austenite” làm cho mác thép này có độ bền, tính dẻo và dai, ngay cả ở nhiệt độ hổn hợp làm nguội. Niken cũng là chất không từ tính. Trong khi vai trò của Niken không có ảnh hưởng trực tiếp lên sự phát triển của lớp “trơ” trên mặt, niken cải thiện đáng kể việc chịu được acid tấn công, đặc biệt là với acid sulfuric.

MOLYBDEN (Mo)
Chất phụ gia Molybden thêm vào mác thép “Cr-Fe-Ni” sẽ tăng tính chống mòn lỗ chỗ cục bộ và chống mòn kẻ nứt tốt hơn (đặc biệt là với mác thép Ferritic Cr-Fe ). Molybden giúp chống tác động thiệt clorua (mác thép 316 có 2% molybden tốt hơn mác thép 304 dùng tại miền ven biển). Lượng Molybden càng cao (đôi khi có mác thép có 6% molybden), thì mức chịu clorua càng cao
- Quan trọng nhất Các tấm cực khi cắt cần đảm bảo mặt phẳng cân bằng, với dung sai là +/- 0.0254 mm, Còn dung sai của vết cắt là 0.38 mm. Tốt nhất là cắt bằng laser sẽ đảm bảo hơn bằng cắt bằng máy cắt thông thường.
- Khi điện phân xảy ra, việc tạo ra các cần phải giải thoát nhanh các bong bóng nhỏ trên bề mặt tấm cực. Dùng giấy ráp thô dạng hạt to miết theo chiều dọc của bề mặt tấm cực (nhiều lần) sau đó chuyển sang chiều ngang. Kết quả cho ra 1 tấm cực có 2 bề mặt được làm xước.
- Rửa sạch tấm cực và dùng nước cất để rửa lần cuối (tránh khỏi các chất clorua hay các tạp chất khác có trong nước của thành phố). Để khô.
- Nhiều người lầm tưởng là quá trình điện phân là quá trình điện, nhưng đó là quá trình từ. Rất quan trọng để tối ưu hóa việc sinh khí, các tấm cực phải đặt có từ tính với nhau. Vì vậy cho nên xếp các tấm cực với bề mặt tấm cực vuông góc với đất, đặt sát nhau, cuốn nhiều vòng dây điện xung quanh và 2 đầu dây gắn vào acquy. Cho 1 xung điện ngắn chạy qua. Các tấm cực cần phải được giữ theo 1 hướng khi cho vào trong bình điện phân.


Làm sạch các tấm cực
- Chuẩn bị 5-10% dung dịch KOH và để nó mát.
- Đặt các tấm cực vào bình điện phân.sao cho vẫn giữ nguyên tính chất từ tính theo 1 chiều.
- Đổ dung dịch vào sao cho tràn qua điểm cao nhât của tấm cực.
- Cho dòng điện chạy qua với cường độ là 4A hoặc hơn, trung bình cứ 2 tấm cực tạo thành 1 cell thì hiệu điện thế là 2V. Nếu 3 tấm cực đặt liên tiếp tạo thành 2 cell, hiệu điện thế là 4V. Quá trình điện phân này để giải thoát các hạt bẩn từ bề mặt tấm cực, nó sẽ sinh khí nên không nên để khí bị nén mà cho thoát ra ngoài luôn.
- Sau nhiều giờ để điện phân, ngắt điện và đổ dung dịch điện phân KOH ra khỏi bình điện phân. Rửa sạch bình điện phân với nước cất. Lọc dung dịch KOH loãng thông qua lọc caphe hay qua giấy vệ sinh để loại bỏ các hạt bẩn. Sau đó lại đổ dung dịch KOH loãng này vào bình điện phân và lại nối điện như cũ. Tiếp tục quá trình làm sạch.
- Quá trình này diễn ra lặp khoảng vài lần, cho đến khi bề mặt các tấm cực không còn tạo ra các hạt bẩn nữa. Trung bình mất khoảng 3-4 ngày để làm việc này. Sau đó rửa lại bình điện phân bằng nước cất.

Làm khỏe các tấm cực:
- Đổ dung dịch vào sao cho mực chất điện phân thấp hơn điểm cao nhât của tấm cực 1,5cm.
- Cho dòng điện tương tự chạy qua, mực nước sẽ thấp dần, xem xét cường độ dòng như thế nào. Nếu dòng ổn định, giữ nguyên pha như thế tiếp tục trong vòng 2-3 ngày, chỉ thêm nước cất khi mực nước xuống thấp. Nếu chất bẩn vẫn tạo ra làm đục chất điện phân trong mỗi cell, cần làm sạch các tấm cực lại. Chạy sau 2-3 ngày ok, bỏ chất điện phân ra, rửa lại bình.

Xử lý cell cộng hưởng
- Điện phân DC liên tục, Đổ dung dịch vào sao cho mực chất điện phân thấp hơn điểm cao nhât của tấm cực 2,5cm.
- DC volt trung bình 2V =1cell, bình có 101 tấm cực nên có 100 cells. Vậy DC volt là 180-200 V
- Để xử lý cộng hưởng, Đổ dung dịch vào sao cho mực chất điện phân thấp chỉ bẳng 1/2 chiều cao nhât của tấm cực. Khí sẽ ra rất nhanh, trung bình 1 cell tương đương 1,5 Volt nên 100 cells chỉ cần 150 Volts.

Các vấn đề phát sinh
- Dòng điện thấp khác thường do lỗi của việc chuẩn bị các tấm cực hoặc bị làm bẩn quá. Bỏ các tấm cực ra và chuẩn bị các tấm cực từ đầu
- Dòng điện cao khác thường là do có sự rò rỉ giữa các cells. Cần làm lại bình điện phân hoặc gắn lại các tấm cực cho kín.
- Dòng điện khi bắt đầu cao sau đó giảm xuống thấp, nghĩa là các tấm cực bị bẩn hay bị hư hỏng. bỏ các tấm cực ra và chuẩn bị lại các tấm cực như từ đầu.

3. Làm bảng điện:
Xử lý cộng hưởng cần 1 hệ thống xung điện DC. Bob dùng biến thế dạng cuộn hình xuyến điều chỉnh phù hợp với bình điện phân.
Bảng điện tử tạo ra 3 tần số độc lập mà kết hợp với nhau để tạo ra 1 dạng sóng ngắn dồi dào và phức tạp, được điều chỉnh bởi biến thế hình xuyến.
Không nên tập trung quá vào các tần số 42,8 KHz, 21,4 KHz, 10,7 KHz. Con số chính xác không phù hợp do mỗi bình điện phân có các tấm cực khác nhau, khoảng cách giữa các tấm cực khác nhau, mật độ và nhiệt độ chất điện phân, áp suất vận hành ảnh hưởng đến điều chỉnh bảng điện. Với bình điện phân lớn cho tàu, chiều dài và rộng của tấm cực là 30cm,  Bob tìm được điểm cộng hưởng là ít nhất 100Hz thấp hơn so với các loại tấm cực nhỏ hơn.
Mặc dù đã làm các tấm cực và gắn vào bình điện phân với độ chính xác cao, nhưng vấn đề vẫn có thể xảy ra. Khi thấy có thể ở mỗi Cell khác nhau lại có 1 điểm cộng hưởng khác nhau. Vì vậy với mỗi loại bình điện phân làm ra, ta có thể tạo ra biến thế phù hợp khác nhau.


Về vấn đề làm bảng điện, cần tham khảo trên internet. Đây là 1 mẫu bảng điện:


Related

năng lượng miễn phí 5590554904062999009

Post a Comment

Theo dõi trên Facebook

Hot in week

Recent

Comments

Video

item